Dẫu Tằm đến thác vẫn còn vương tơ

 

Xin được mạn phép dẫn lại cảm xúc trân trọng của Đại thi hào Nguyễn Du khi diễn tả sự cần mẫn tận hiến cho đời của loài tằm để đặt tựa bài về GS.TS.NGND. NGÔ KIỀU NHI – Ái nữ của Cố Bộ trưởng Canh nông, kỹ sư Nông học Ngô Tấn Nhơn và bà Kiều Thị Nghê, thành viên tổ thư ký Văn thư của Bác Hồ.

GS. Ngô Kiều Nhi sinh năm 1945, tại Sài Gòn; nguyên Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học & Đào tạo sau đại học trường Đại học Bách Khoa TPHCM; Giải thưởng Kovalevskaia năm 2002 & Giải thưởng Nhà nước về Khoa học - Công nghệ năm 2005 vì những cống hiến của Công trình khoa học tiêu biểu với cụm đề tài "Nghiên cứu thiết kế, chế tạo một số thiết bị đo lường và điều khiển phục vụ sản xuất". Hơn nửa thế kỷ cống hiến cho sự nghiệp khoa học, tên tuổi GS. Ngô Kiều Nhi gắn liền với các công trình nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao trong sản xuất, phát triển cộng đồng. GS. Ngô Kiều Nhi đã góp phần đưa Trường Đại học Bách khoa TPHCM trở thành cơ sở giáo dục đầu tiên của Việt Nam đào tạo ngành Cơ kỹ thuật, lĩnh vực đóng vai trò kết nối giữa khoa học cơ bản với ứng dụng công nghệ, tạo nền tảng cho nhiều ngành kỹ thuật hiện đại sau này.

 

Thấy cùng có tên trong danh sách biểu dương nữ trí thức Việt Nam tiêu biểu giai đoạn 2021 – 2026, tôi nhắn tin rủ Chị đi Hà Nội, sẵn tiện sẽ ghé thăm Trang trại Đồng quê Ba Vì của em gái Chị là TS. Ngô Kiều Oanh, cũng bởi Chị đã hẹn tôi đi thăm quan Trang trại này từ nhiều năm trước. Tuy nhiên khi đọc tin nhắn Chị báo không đi được, tôi mới giật mình, hối hận vì sự vô tâm mà quên mất rằng Chị đã bước sang cái tuổi U90, sức khỏe không cho phép đi một hành trình xa xôi đến như vậy.

Biết về Chị đã mấy chục năm, thân quen trong nhiều năm, nể phục là nhà khoa học xuất chúng, thỉnh thoảng hai chị em còn “nấu cháo điện thoại” hàng giờ đồng hồ nhưng tôi chưa một lần có ý nghĩ sẽ viết về Chị, bởi có không ít bài báo đã làm điều này. Thế nhưng vì cái tin nhắn Chị thông báo không thể ra Hà Nội khiến tôi bỗng dưng muốn viết vài điều gì đó - Những câu chuyện bây giờ mới kể về Chị,...

Chiếc bóng đèn neon mang về từ xứ sở Bạch Dương

Năm 1975, khi vừa tốt nghiệp phó tiến sĩ từ trường Đại học Bách khoa Kharkiv thuộc Liên bang Xô Viết, Chị nâng niu mang vể nhà những ống đèn neon với niềm háo hức mong muốn được chính tay mình thay thế bóng đèn dây tóc nhằm tiết kiệm sự tiêu hao năng lượng và tạo độ sáng lớn hơn. Giữa lúc mọi người trong khu tập thể kéo sang nhà ba má Chị hồ hởi chiêm ngưỡng luồng ánh sáng mới bằng ánh mắt trầm trồ ngạc nhiên vì sự sáng bừng của căn phòng thì ba Chị hốt hoảng kêu Chị phải tháo gỡ xuống ngay. Lý do dẹp bỏ ánh sáng neon của ba Chị nghe rất vô lý nhưng đó lại là sự thật của tâm lý chung trong xã hội thời bấy giờ: Mình không được làm điều gì khác với mọi người. Đó là lời răn dạy của người cha từng trải bể dâu và sâu xa hơn có lẽ cũng là lời cảnh báo những chông gai gập ghềnh trên con đường nghiên cứu khoa học đang chờ đợi thử thách Chị ở phía trước?

Quả đúng vậy, suốt cả một đời nghiên cứu khoa học Chị luôn tâm niệm phải góp phần giải quyết các nhu cầu thực tế cuộc sống bằng chuyên ngành đã được đào tạo là lĩnh vực cơ học ứng dụng, đo lường và điều khiển. Điều đó thật không dễ dàng vì bên cạnh ngành kỹ thuật đòi hỏi nền tảng toán học, tư duy hệ thống và khả năng làm việc bền bỉ trong phòng thí nghiệm thì còn phải có nguồn nhân lực, vật lực cần và đủ,... Nhưng trong điều kiện thực tế thì kinh phí dành cho công tác nghiên cứu khoa học lại rất hạn hẹp.

Người mẹ đơn thân góp công tháo gỡ bế tắc thời cấm vận

Rời trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Chị được điều chuyển vào trường Đại học Bách Khoa TPHCM vào cuối năm 1975 với tâm thế nhiệt huyết của một người thầy muốn truyền dạy kiến thức, đáp ứng khát vọng được học tập của con em các gia đình lao động, đào tạo những thế hệ trí thức trẻ có nền tảng tri thức khoa học kỹ thuật tiên tiến (thời điểm lúc đó còn rất khan hiếm), tham gia vào lực lượng lao động sáng tạo xây dựng, phát triển đất nước sau chiến tranh. Nhưng biến cố cứ liên tiếp ập đến cuộc đời Chị. Năm 1979 Chị phải tiễn biệt người chồng ra đi vì tai nạn giao thông trong lúc con gái nhỏ chưa đầy 4 tuổi. Và khi con gái có thể chia sẻ công việc gia đình với Chị thì cháu lại bị tai nạn, hạn chế vận động trong nhiều năm. Cuộc sống thời bao cấp bị Mỹ bao vây cấm vận vô vàn khó khăn và với người mẹ đơn thân, nuôi con bệnh tật lại càng chất chồng vất vả. Nhưng đó chưa phải là tất cả, với Chị, trên hết vẫn là niềm đau đáu tìm cách góp phần vực dậy nền kinh tế của Thành phố đang bị đình trệ sản xuất do máy móc bị hư hỏng rất nhiều mà không có thiết bị thay thế, đặc biệt nhu cầu về máy cân bằng động (CBĐ) rất cấp thiết vì cho dù có máy móc mà không được cân bằng thì cũng không hoạt động được,…Chính trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, đã thôi thúc Chị và các cộng sự Phòng thí nghiệm bộ môn Kỹ thuật cơ sở mạnh dạn nghiên cứu, tìm kiếm, nhặt nhạnh, tận dụng nguyên vật liệu cũ trong Trường để mày mò chế tạo, thử nghiệm và cho ra đời máy CBĐ made in Việt Nam. Thành công này đã giải quyết nhu cầu nhập máy CBĐ từ nước ngoài và đã tạo ra nghề CBĐ với các xưởng CBĐ được thành lập ở nhiều nơi trên địa bàn TPHCM và cả nước; Chị đã góp công rất lớn để chuyển giao hàng trăm máy CBĐ đến các công ty cơ khí, các xưởng sửa chữa bảo trì máy trên cả nước với giá thành rẻ hơn 50% so với nhập từ nước ngoài, đã làm lợi hàng chục tỷ đồng vào thời điểm những năm 90 thế kỷ trước.

Trong suốt một đời làm nghề, dạy học,... Chị luôn thức tỉnh một mệnh lệnh từ khối óc đến con tim là phải chủ động tự tạo ra công nghệ, thiết bị (dù giá trị thương phẩm thấp) nhưng đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu và giảm bớt áp lực gánh nặng chi phí mua sắm trang thiết bị cho Phòng thí nghiệm. Đơn cử là sản xuất máy đo cảm biến, hệ thống đo biến dạng đa kênh đến các bộ điều khiển bằng máy tính (CNC) cho máy tiện, máy phay CNC,... Đó cũng là lý do Chị thành lập ra xưởng cơ khí và biên soạn giáo trình để tổ chức giảng dạy một tiểu ngành trong chương trình đào tạo là bộ môn Kỹ thuật đo lường.

Viên phi công người Anh và 2 chiếc turbine cần “cấp cứu”

Chị kể vào khoảng cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, có một phi công người Anh tìm đến Trường Đại học Bách Khoa TPHCM nhờ sửa chiếc turbine bị trục trặc trên đường bay từ Anh đến Thái. Thời điểm đó kỹ thuật kiểm tra sự đối xứng khối lượng (gọi là sự cân bằng động) rất khó, nếu không tìm ra địa chỉ tin cậy có thể làm được việc này thì phải bay ngược về Anh, mà như vậy thì rất tốn kém. Vì “lạ nước lạ cái” nên người phi công Anh chỉ biết tìm đến Trường ĐH Bách khoa TPHCM để cầu cứu sự giúp đỡ. Ban giám hiệu Nhà trường giới thiệu ông ta trực tiếp làm việc với nhóm của Chị. Cả Chị và viên phi công đều rất lo lắng theo cách riêng của mỗi người. Với Chị, lo lắng vì tầm quan trọng về mặt kỹ thuật phải đạt yêu cầu mức độ cao nhất, còn viên phi công lo lắng vì trình độ, tay nghề của những cán bộ giảng dạy, liệu có làm nên cơm cháo gì  trong điều kiện trang thiết bị rất thô sơ? Vì vậy, trong lúc nhóm của Chị thâu đêm làm việc thì viên phi công cũng thâu đêm đứng bên cạnh theo dõi rất sát sao với tâm trạng nửa tin nửa ngờ, bởi trong tình thế bất khả kháng, nơi đất khách quê người, ông ta chỉ còn cách phải bấu víu vào nhóm của Chị. Thật bất ngờ, khi chiếc turbine được giao lại cho chủ nhân thì ngày hôm sau viên phi công quay lại Trường nhờ Chị sửa tiếp chiếc turbine thứ 2 và thú nhận rằng sự thật là có 2 turbine bị hỏng, nhưng vì lúc đầu chưa thật tin tưởng nên ông ta đã đem một chiếc đến sửa chỗ khác, kết quả là chiếc turbine do nhóm của Chị sửa hoạt động rất tốt, còn cái đem sửa chỗ khác thì không ổn.

Từ kết quả này, càng củng cố và khẳng định niềm tin của Chị về tầm quan của nắm vững kiến thức cơ bản trong nghiên cứu khoa học, nhờ đó có thể giải quyết các vấn đề phức tạp một cách đơn giản, mang lại hiệu quả kinh tế cao (vì giá thành rẻ). Vì vậy mà hiện nay các ngành cơ bản đã dần trở thành các ngành công nghệ, như ngành đào tạo Cơ kỹ thuật, Vật lý kỹ thuật, Toán kỹ thuật,… (Trước đây Toán, Lý, Cơ chỉ được xem là các môn học trong chương trình kiến thức cơ bản của các trường đại học kỹ thuật).

Từ chẩn đoán sức khỏe những cây cầu đến sớm phát hiện nguy cơ sạt lở

Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất, phát triển cộng đồng là phương châm làm nghề trọn đời của Chị. Vì vậy với công trình nghiên cứu đánh giá nhanh tình trạng an toàn của các cây cầu (là công trình mang dấu ấn riêng của Chị và nhóm nghiên cứu) luôn ám ảnh Chị là làm cách nào để ứng dụng nó vào cuộc sống? Bởi lẽ, để thuyết phục những người có trách nhiệm tin và cho phép khai triển thực hiện là không dễ vì trong thực tế chưa có ngành kỹ thuật nào ứng dụng trừ ngành hàng không, đo dao động để đánh giá, phân tích tần số, biên độ rung động của động cơ và kết cấu máy bay, nhằm đảm bảo an toàn bay và ngăn ngừa sự cố cộng hưởng nguy hiểm.

Vừa hay tại thời điểm những năm 90 của thế kỷ trước, một vị giáo sư – chuyên gia bộ môn Cầu đường, khoa Kỹ thuật - Xây dựng trong Trường đã đặt vấn đề nhờ Chị hỗ trợ kiểm định thông qua việc đo sự dao động của cầu vì bộ môn giảng dạy của vị giáo sư chưa nghiên cứu về lĩnh vực này. Vậy là một bản hợp đồng hợp tác giữa những nhà khoa học đã được ký kết, và trong suốt nhiều tháng sau đó, trên các cây cầu của đường phố Sài Gòn người đi đường thường bắt gặp hình ảnh một người phụ nữ bé nhỏ cùng với một nhóm bạn trẻ say sưa làm công việc đo đạc bất chấp trời mưa hay nắng để hoàn thành một báo cáo nghiệm thu về quy trình giám sát bảo trì những cây cầu từ kết quả chẩn đoán nhanh, đo dao động rung của 40 cây cầu.

Cho đến hôm nay khi đã bước sang tuổi U90 Chị vẫn không cam tâm nghỉ ngơi, vẫn nặng lòng trắc ẩn bởi những thảm cảnh sập cầu, nhà cửa, đường sá bỗng nhiên bị sụt lún gây ra nhiều thảm họa đau thương cho cộng đồng, và Chị càng bức xúc hơn với cách xử lý “mất bò mới lo làm chuồng” sau mỗi lần xảy ra sự cố thì mới tổ chức đoàn đi kiểm tra, khảo sát, đánh giá,… Vì vậy, dù sức khỏe không cho phép đi xa, Chị vẫn hướng dẫn, chỉ đạo nhóm nghiên cứu đi khảo sát dọc bờ sông Sài Gòn, xuống tận Cà Mau,… để đo dao động đất, chấn đoán nguy cơ sạt lở, sụt lún để cảnh báo, bảo vệ sự an toàn cho người dân.

Với Chị, khoa học luôn đồng nghĩa với cuộc sống tốt đẹp, mang lại hạnh phúc cho con người. Vì vậy, khi Nhà nước triển khai thực hiện mô hình sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn (cánh đồng lớn) thì Chị ước ao sản xuất được những thiết bị nông nghiệp có thể thay người làm công việc gieo trồng, thu hoạch,… để người nông dân bớt đi nỗi nhọc nhằn, không phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Và tôi hiểu, đó không chỉ là ước mơ, Chị sẽ lại âm thầm nghiên cứu để tận hiến cho đời bằng tất cả niềm khát khao cống hiến.

Những đề tài khoa học tiêu biểu của GS. Ngô Kiều Nhi: "Cân bằng các chi tiết quay và khử rung các máy và thiết bị trong sản xuất" năm 1991-1993; "Nghiên cứu thiết kế chế tạo máy cân bằng" năm 1994-1996; "Chế tạo mô hình điều khiển bằng máy tính (CNC) trên máy tiện" năm 1996-1997; "Dự án sản xuất thử: Tin học hóa một số máy và thiết bị" năm 1997-2000; "Thiết kế chế tạo thiết bị đo biến dạng bằng biến cảm điện trở dây Straingauge" năm 1998-2000; Dự án sản xuất thử "Chế tạo bộ Controller cho máy CNC" năm 2001-2003; Thiết kế, chế tạo máy CNC 4D kiểu C dạng bàn gia công vật liệu mềm 2014-2015,…

Đánh đấu các điểm đo dao động của đất

Nguyễn Thị Khánh Tâm

 


Phần mềm giao nhận logistic