Nhiều ý kiến tham luận tâm huyết đóng góp cho cuộc Tọa đàm Khoa học: "Định hướng xây dựng ấn phẩm “Giới và Đời sống” - Kết nối mạng lưới nữ trí thức"

Cuộc Tọa đàm được Hội Nữ trí thức TPHCM tổ chức vào sáng ngày 06/8/2026 tại cơ sở Sài Gòn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Cùng với 14 báo cáo tham luận đăng trong Kỷ yếu, tại cuộc Tọa đàm còn nhận được 15 ý kiến tham luận của các đại biểu tham dự.

Phát biểu đề dẫn, PGS.TS. Trương Thị Hiền, Chủ tịch Hội Nữ trí thức TPHCM đã khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng ấn phẩm "Giới và Đời sống" không chỉ đáp ứng nhu cầu trao đổi học thuật giữa đội ngũ nữ trí thức mà còn góp phần lan tỏa tri thức khoa học về giới đến cộng đồng, thúc đẩy bình đẳng giới, phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển bền vững và nâng cao vị thế của Hội trong đời sống khoa học – xã hội. Theo đó, Chủ tịch Hội cũng định hướng phát triển ấn phẩm trên cơ sở xác lập tầm nhìn, sứ mệnh và các nguyên tắc xây dựng nội dung phù hợp với xu thế truyền thông khoa học hiện đại.

Phiên thảo luận đã ghi nhận nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết, đa chiều từ các nhà khoa học, chuyên gia và đại diện các chi Hội. Các đại biểu tập trung trao đổi về cấu trúc nội dung, phương thức tiếp cận độc giả, cũng như giải pháp kết hợp hài hòa giữa hàm lượng khoa học chuyên sâu và tính thực tiễn đời sống. Các phát biểu tham luận đã gợi mở sâu sắc về việc phát huy vai trò của nữ trí thức trong công tác phản biện xã hội, lan tỏa văn hóa đọc, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển truyền thông đa nền tảng. Đơn cử một số phát biểu tham luận:

- ThS. Nguyễn Thái Quỳnh Như, UV Ban Thường vụ Hội LH Phụ nữ TPHCM nhấn mạnh sự cần thiết trong phối hợp chặt chẽ giữa Hội LH Phụ nữ Thành phố và Hội Nữ trí thức TPHCM để tăng cường tương tác và lan tỏa Ấn phẩm rộng rãi thông qua hệ thống Fanpage, Website.

- TS. Lý Thị Mai, Chuyên gia tư vấn tâm lý, UV BCH Hội NTT TPHCM đề xuất giải pháp phối hợp với các cơ quan báo chí (như báo Phụ Nữ Mới) tổ chức tọa đàm định kỳ; nội dung tin bài phải chạm đến góc khuất; cần dũng cảm đưa tin bài về quyền và đời sống của cộng đồng LGBT,…

- TS. Văn Thị Nhã Trúc, Giảng viên Khoa Ngữ văn Anh, Trường ĐH KHXH&NV đề xuất mở rộng chủ đề & tầm nhìn chiến lược của Ấn phẩm là cần bám sát các chủ đề mang tính thời đại (công nghệ & chuyển đổi số); đề cao tính đa dạng và bao trùm trong xã hội đương đại,…

Tổng kết buổi Tọa đoàn, GS.TS. Ngô Thị Phương Lan, Phó chủ tịch Hội Nữ trí thức TPHCM đã khái quát trọn vẹn bức tranh toàn cảnh và khí thế của buổi Tọa đàm, chính thức khép lại một phiên làm việc đầy tâm huyết, trí tuệ và trách nhiệm của đội ngũ nữ trí thức TPHCM. Tất cả các đại biểu đều đồng thuận cao về sự cần thiết phải ra đời một diễn đàn/ấn phẩm chuyên biệt của Hội Nữ trí thức TPHCM nhằm lan tỏa sứ mệnh, trách nhiệm và tiếng nói của nữ trí thức trong giai đoạn mới. Đồng thời, tên gọi "Giới và Đời sống" nhận được sự đồng thuận tuyệt đối vì phản ánh đúng tính sinh động, thực tiễn và khách quan. Hệ sinh thái triển khai được thiết kế bao trùm: Từ mô hình tổ chức bộ máy, cơ chế phân bổ nội dung, cho đến đa dạng hóa hình thức truyền tải (kết hợp hài hòa giữa ấn phẩm in truyền thống và các nền tảng số hiện đại). Mục tiêu hướng tới của Ấn phẩm hướng tới một tầm vóc lớn là phục vụ đa dạng đối tượng độc giả từ nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học, nhà quản lý cho đến phụ nữ và cộng đồng ở mọi lĩnh vực cơ sở. Trong tiến trình đó, quá trình xây dựng Ấn phẩm cũng đối diện thử thách trong việc dung hòa giữa hàm lượng chuyên môn hàn lâm và tính đại chúng, đòi hỏi sự dấn thân, tài năng và tâm huyết của Ban Biên tập cùng Thường trực Hội.

Tọa đàm khép lại trong sự thống nhất cao, hứa hẹn sự thành công và lan tỏa mạnh mẽ của Ấn phẩm "Giới và Đời sống" trong cộng đồng nữ trí thức TPHCM khi Ấn phẩm được phát hành.

Hướng nghiên cứu chính của 14 báo cáo tham luận đăng trong Kỷ yếu

1. “Vai trò nữ trí thức Thành phố Hồ Chí Minh trong truyền thông tri thức và kiến tạo bình đẳng giới” của GS.TS. Ngô Thị Phương Lan và PGS.TS. Lê Thị Ngọc Điệp là dựa trên các tiếp cận về xã hội tri thức (Drucker, 1993; Castells, 2010), sáng tạo tri thức (Nonaka & Takeuchi, 1995), truyền thông tri thức và khoa học mở (Nowotny et al., 2001; UNESCO, 2021) để phát triển Khung năng lực Nữ trí thức 4K nhằm phát huy vai trò của nữ trí thức trong kỷ nguyên số. Khung năng lực Nữ trí thức 4K khẳng định giá trị của nữ trí thức không chỉ nằm ở năng lực nghiên cứu, mà còn ở khả năng chuyển hóa tri thức thành nguồn lực phát triển xã hội và củng cố niềm tin khoa học.

2. “Kinh nghiệm xây dựng mạng lưới cộng tác viên và duy trì ấn phẩm định kỳ” của TS. Triệu Thanh Lê & TS. Võ Thị Như Hằng phân tích vai trò của cộng tác viên như một nguồn lực tri thức bên ngoài; khảo sát kinh nghiệm xây dựng mạng lưới tác giả tại Tạp chí Kinh tế Sài Gòn và Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam; từ đó nhận diện các điều kiện bảo đảm nguồn bài, chất lượng nội dung và tiến độ xuất bản. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình cộng tác viên đa tầng, cơ chế đặt bài chủ động, quy trình biên tập - thẩm định chuẩn hóa và phương thức phát triển nội dung đa nền tảng cho Ấn phẩm “Giới và Đời sống”.

3. “Vai trò dẫn dắt của truyền thông đại chúng trong cuộc chiến giải quyết những hệ lụy bất bình đẳng giới trong thời đại số - Từ sự phân tích một số tác phẩm sách báo” của ThS. Nguyễn Thị Khánh Tâm tập trung phân tích một số thách thức nổi cộm của thực trạng bất bình đẳng giới nảy sinh trong thời đại số; đánh giá vai trò, giá trị của truyền thông đại chúng trong việc truyền tải và lưu trữ tri thức, giáo dục nâng cao nhận thức,... Qua đó, đề xuất một số ý kiến thúc đẩy bình đẳng giới trong chuyển đổi số nhằm tổ chức hiệu quả công tác biên soạn ấn phẩm sách Giới & Đời Sống.

4. “Khoa học giới và cuộc đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ ở Việt Nam hiện nay” của TS. Vũ Thị Mai Oanh góp phần làm rõ những dấu ấn của khoa học Giới vào đời sống xã hội Việt Nam; đề xuất một số giải pháp với Hội Nữ trí thức TPHCM để đóng góp vào thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam.

5. “Trách nhiệm xã hội của nữ trí thức Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay trong lĩnh vực pháp luật và quản trị công” của PGS.TS. Trương Thị Hiền phân tích trách nhiệm xã hội của nữ trí thức TPHCM hiện nay trong lĩnh vực pháp luật và quản trị công như một yêu cầu nghề nghiệp, đạo đức và công dân trong bối cảnh Thành phố đang chuyển mình mạnh mẽ theo mô hình đô thị đặc biệt, chính quyền đô thị hiện đại, chuyển đổi số và phát triển bền vững. Trách nhiệm xã hội của nữ trí thức không chỉ là thực hiện tốt chức trách chuyên môn, mà còn là trách nhiệm tạo lập tri thức đúng đắn, phản biện chính sách có căn cứ, bảo vệ công lý, đưa pháp luật đến gần đời sống, góp phần xây dựng nền hành chính liêm chính, phục vụ và nhân văn; đồng thời hỗ trợ phụ nữ, trẻ em và các nhóm yếu thế tiếp cận bình đẳng với dịch vụ công, pháp luật và cơ hội phát triển.

6.“Giải pháp nâng cao chất lượng công tác phản biện và tư vấn chính sách cho nữ trí thức Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp” của ThS. Ung Thị Xuân Hương & ThS. Phạm Thanh Tuyền phân tích vai trò tích cực của Hội Nữ trí thức TPHCM trong công tác phản biện xã hội, tư vấn chính sách. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, việc tìm ra giải pháp nhằm để nâng cao chất lượng công tác phản biện xã hội, cũng như tư vấn chính sách đối với nữ trí thức Thành phố là yêu cầu cấp thiết, rất cần được quan tâm.

7. “Nữ trí thức trong nghiên cứu khoa học, công nghệ và thương mại hóa sản phẩm từ kết quả nghiên cứu” của TS. Phan Thu Nga & TS. Nguyễn Thị Thanh Mỹ phân tích vai trò của nữ trí thức trong nghiên cứu khoa học, công nghệ và thương mại hóa sản phẩm từ kết quả nghiên cứu; đồng thời dẫn chứng một số trường hợp thương mại hóa thành công ở Việt Nam và quốc tế, từ đó đề xuất giải pháp nhằm phát huy tốt hơn năng lực sáng tạo của nữ trí thức trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiện nay.

8. “Trách nhiệm xã hội của nữ trí thức nghệ thuật trong việc định hướng giá trị thẩm mỹ nghe - nhìn trước làn sóng thương mại hóa truyền thông số” của PGS.TS. Phan Thị Bích Hà đi sâu vào phân tích thực trạng thay đổi quan điểm thẩm mỹ nghe - nhìn của công chúng, đặc biệt là giới trẻ, bài viết chỉ rõ xu hướng “vật chất hóa” hay “vật hóa” cơ thể người phụ nữ như một công cụ trục lợi của nền kinh tế thuật toán. Qua đó, khẳng định vai trò phản biện, tư vấn và sự sàng lọc văn hóa mang tính tất yếu của đội ngũ nữ trí thức hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật; đề xuất các giải pháp thực tiễn nhằm xây dựng chuyên mục chuyên sâu cho Ấn phẩm “Giới và Đời sống” giai đoạn 2027 - 2030, đồng thời kiến tạo mạng lưới kết nối số giữa các chi Hội trường đại học để phát huy trách nhiệm xã hội của nữ trí thức nghệ thuật.

9. “Từ đổi mới sáng tạo đến giá trị kép: Trách nhiệm xã hội của nữ trí thức trong khởi nghiệp hiện nay” của TS. Nguyễn Ngọc Trang tổng hợp các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội trong khởi nghiệp của nữ doanh nhân nhằm trả lời 3 câu hỏi: trách nhiệm xã hội được thực hiện dưới những hình thức nào; các yếu tố ảnh hưởng như thế nào; và các thực hành này tạo ra giá trị gì cho Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng tổng quan phạm vi theo PRISMA với dữ liệu từ Scopus giai đoạn 2010–2025; đề xuất tăng cường hoạt động cố vấn, tài chính, công nghệ, kết nối thị trường và đo lường tác động tại Việt Nam.

10. “Bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho cán bộ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu quản trị đô thị đặc biệt” của TS. Trần Thị Anh Vũ & ThS. Trần Thị Linh tập trung khái quát những chủ trương, mục tiêu, kế hoạch và một số kết quả của TPHCM trong công tác bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo cho đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ nữ; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ nữ, đáp ứng yêu cầu quản trị đô thị đặc biệt.

11. “Nữ trí thức trong ngoại giao văn hóa và đối ngoại nhân dân: Từ tri thức học thuật đến trách nhiệm xã hội” của PGS.TS. Phan Thị Hồng Xuân phân tích vai trò nữ trí thức trong việc xây dựng cầu nối giữa giảng đường, cộng đồng và bạn bè quốc tế; góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam, thúc đẩy đối thoại liên văn hóa, bình đẳng giới và phát triển bền vững; đề xuất một số định hướng nhằm phát huy vai trò của mạng lưới nữ trí thức trong giai đoạn mới, hướng tới xây dựng không gian tri thức nhân văn, sáng tạo và có trách nhiệm với cộng đồng.

12. “Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy trách nhiệm xã hội của nữ trí thức đối với giáo dục và đào tạo trong kỷ nguyên mới” của TS. Nguyễn Thị Thanh Hà đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao nhận thức chính trị, đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn, năng lực số, năng lực đổi mới sáng tạo; tăng cường nghiên cứu khoa học, phản biện chính sách; phát huy vai trò nêu gương, lan tỏa tri thức; xây dựng môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nữ trí thức; tăng cường kết nối giữa nhà trường, gia đình và xã hội; phát huy vai trò của Hội nữ trí thức và tích cực đấu tranh với các quan điểm sai trái, xuyên tạc về giáo dục và đào tạo trong kỷ nguyên mới.

13. “Nữ trí thức trong giáo dục đại học thời đại số: Vai trò kiến tạo tri thức và thực hiện trách nhiệm xã hội” của TS. Bùi Hà Phương sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu để làm rõ vai trò của nữ trí thức trên hai phương diện chính: kiến tạo tri thức số và thực hiện trách nhiệm xã hội; đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện chính sách, nâng cao năng lực số đến xây dựng mạng lưới kết nối nhà trường và cộng đồng nhằm phát huy toàn diện vai trò của nữ trí thức trong phát triển giáo dục đại học bền vững.

14. “Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho phụ nữ: Từ nhận thức đến hành động của nữ trí thức” của TS. Lê Thị Mai Liên đề xuất một số định hướng can thiệp phù hợp với bối cảnh văn hóa Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của nữ trí thức – đặc biệt trong lĩnh vực tâm lý học và giáo dục – trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng, xây dựng chương trình hỗ trợ tâm lý và thúc đẩy chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần có nhạy cảm giới. Qua đó khẳng định rằng nữ trí thức có thể đóng vai trò cầu nối giữa khoa học tâm lý và thực tiễn đời sống, góp phần xây dựng xã hội bình đẳng và lành mạnh hơn.

 

Ban Nội dung Tọa đàm Khoa học


Phần mềm giao nhận logistic